BÁCH CHU NIÊN
THÀNH LẬP GIÁO XỨ
1908 – 2008
Biên soạn : Lm Dom. Nguyễn Văn Quát
V. Trang sử mới
VI. Nam Lỗ hôm nay - nhà xứ và các họ giáo
VII. Dấn thân phục vụ - những Người con ưu tú N.Lỗ
VIII.Hướng tới tương lai
- Hồi ký của Giáo dân NL - AT
GIÁO XỨ NAM LỖ
Giáo xứ Nam Lỗ gồm 13 ngôi nhà thờ lớn nhỏ, nằm trên phần đất của 6 xã thuộc huyện Đông Hưng và 1 xã thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Nhà thờ chính của giáo xứ tọa lạc giữa một làng dân cư nhỏ bé, yên tĩnh trên một cánh đồng lúa mênh mông. Khúc sông Tiên Hưng uốn mình bao bọc lấy ngôi làng thân thương này. Đây là ngôi nhà thờ mẹ, nơi quy tụ của cộng đoàn giáo xứ và được gọi với cái tên thật dễ thương: Nam Lỗ.
Nhà thờ Nam Lỗ cách TP Thái Bình khoảng 20 Km về phía Bắc; trên quốc lộ 39A đường Thái Bình đi Hưng Yên, từ cột mốc Km70 đi vào chừng 5 cây số.
Năm 1722, họ giáo trại Đồng Mư, Làng Sổ được thành lập, với tên gọi Họ giáo Sổ, thuộc về xứ Sa Cát. Sau 186 năm thăng trầm, họ giáo Sổ đã được nâng lên hàng Giáo xứ và cùng với các họ lân cận thành một giáo xứ mới. Các Đấng Bản quyền đã đặt tên xứ mới này là xứ Nam Lỗ.
Theo tài liệu nghiên cứu của Cha Giuse Nguyễn Thanh Liêm thì : Nam Lỗ là tên rất đặc biệt mà Đức Cha Pierre Munagorri Y Obenita, tên Việt Nam của Ngài là Trung (Đức Cha Pierre Munagorri Y Obenita Trung, gốc Người Tây Ban Nha), cai quản Giáo Phận Bùi Chu từ Năm 1907 đến 1936 đã chọn.(Chú thích: Năm 1908, lúc bấy giờ Giáo Xứ Nam Lỗ còn đang trực thuộc vào Giáo Phận Bùi Chu. Ngày 09 Tháng 3 Năm 1936, Giáo Phận Thái Bình mới được thành lập và tách rời khỏi Giáo Phận Bùi Chu. Đức Cha Casado Thuận là Giám Mục tiên khởi của Thái Bình).
Cha Pierre Munagorri Y Obenita, khi còn là Linh Mục và trước khi được Nhà Dòng gửi sang Á Châu truyền giáo, trên đường từ Tây Ban Nha đi đến Việt Nam, Cha Pierre Munagorri Y Obenita đã có dịp đến Nước Tàu (tức Trung Quốc ngày nay) vài tháng. Sau đó đến Việt Nam để thực thi sứ mạng truyền giáo và làm việc mục vụ, Ngài đã lấy tên Việt Nam là Trung.
Năm 1907, Cha Pierre Munagorri Y Obenita Trung được Tòa Thánh đề cử lên làm Gám Mục và đặt Ngài cai quản Giáo Phận Bùi Chu (kế vị Đức Cha Maxime Fernandez Định, 1987-1907). Đức Cha Trung duyệt xét lại phần địa dư và phạm vi mục vụ của toàn Giáo Phận thì thấy Sa Cát là một giáo xứ lớn, và có quá nhiều giáo họ lẻ, trong đó có giáo họ lẻ tại Làng Sổ nằm trên mảnh đất Đồng My có đông giáo dân hơn cả và nhiều họ lẻ nhỏ khác chung quanh - Ngài đã quyết định tách biệt Giáo Họ Sổ và những họ lẻ ấy ra thành một Giáo Xứ mới lấy tên là Nam Lỗ.
Đức Cha Trung đích thân đến viếng thăm và nghiên cứu về giáo họ lẻ Làng Sổ và các họ lẻ lân cận này trong 3 ngày. Thời bấy giờ, không có xe ô tô, Đức Cha và Phái Đoàn Phòng Bộ phải đi xa cả ngày đường từ Bi Chu và đến Làng Sổ thì trời vừa tối. Ngài lưu lại đó 1 ngày và 2 đêm.(chuyến đi trong 3 ngày, gồm 1 ngày đi, rồi ở lại Làng Sổ 2 đêm và 1 ngày, và 1 ngày đi bộ trở về Bùi Chu). Qua 2 đêm, sau các bữa cơm tối, Ngài đi dạo vòng quanh bên ngoài để cầu nguyện. Đức Cha Trung chiêm ngắm bầu trời đẹp với muôn ngàn tinh tú, trăng sao, nhất là nhìn lên Chùm Sao Bắc Đẩu, rồi Ngài nhớ lại lịch sử truyền giáo của Nước Tàu, trong đó có phần đất của Nước Lỗ (cũ) mà Cha Mettéo Ricci, Dòng Tên, xưa kia đã đặt chân đến truyền giáo rất thành công.
Đứng bên bờ Sông Tiên Hưng, nơi mảnh đất của Làng Kinh Môn (Cửa Đền Vua Nước Trời), hướng lên Chùm Sao Bắc Đẩu - Ngài nhìn về phía Bắc là Nước Lỗ, Ngài cũng nhìn về Làng Sổ có phần đất Đồng My đang nằm ở phía Nam, nên trong ý định của Ngài - Ngài đã quyết định đặt tên Giáo Xứ mới này là GIÁO XỨ NAM LỖ (tức là phía Nam của Nước Lỗ). Như vậy, chúng ta đã có tên lịch sử của Giáo Xứ Nam Lỗ là phần đất truyền giáo mới, phía Nam của Nước Lỗ. (Theo Lm. Joseph Nguyễn Thanh Liêm, chuyển ngữ sang Tiếng Việt từ Sách “Histoire du Vietnam” của Delliviers, Un mandarin catholique de 32ans, Trang 263, Quyển IV, reputé pour sa parfaile intégrité, sa compétence et son intelligence, Số kiểm duyệt: 0.00.599708.9. Giấy phép xuất bản số: 0.225.66350.3, Tái xuất bản tại Rome, 25-3-1945, Sách đang được lưu giữ trong Thư Viện Madrid Libreria –Spain).
Năm 1955, do sự phân chia lại địa lý hành chính, trại Đồng My và trại Đồng Cừ tách khỏi Làng Sổ (Xã Chương Dương) và sát nhập vào Xã Hợp Tiến (Làng Ngói). Đồng My ngày nay là Thôn Ái Quốc, Xã Hợp Tiến, Huyện Đông Hưng, Tỉnh Thái Bình.
Hạt giống Tin Mừng đã được gieo vào mảnh đất này khá sớm. Theo sử liệu, năm 1722 nơi đây đã thành một họ đạo, Họ Sổ thuộc xứ Sa Cát. Rồi Tin Mừng lan tỏa theo thời gian, các họ đạo xung quanh dần dần được hình thành.
Năm 1908, cùng với sự trưởng thành của các giáo họ chung quanh thì Giáo Họ Sổ là lớn nhất và đã đủ để bước lên hàng giáo xứ. Đức Cha Trung đã tách 17 họ lẻ khỏi Giáo Xứ Sa Cát và thành lập nên Giáo Xứ Nam Lỗ, đồng thời đặt Cha Phêrô Trứ làm Cha Xứ tiên khởi.
Theo sử ký Địa phận Trung xuất bản năm 1916 (gồm Bùi Chu và Thái Bình ngày nay) thì giáo xứ Nam Lỗ có 17 họ lẻ: 10 họ bổn đạo gốc và 7 họ bổn đạo mới, với tổng số 1197 giáo dân.
Sau đây là đoạn trích nguyên văn về giáo xứ Nam Lỗ năm 1916 :
XỨ NAM LỖ
Xứ này trước thuộc về xứ Sa Cát, Đức Cha Trung mới biệt ra từ năm 1908.
Thầy cả coi sóc xứ thì trước có cụ Trứ, rồi đến cụ Thiêm đang coi sóc bây giờ.
Xứ này gồm lại 10 họ Bổn đạo gốc và 7 họ Bổn đạo mới, các họ ấy về 13 xã.
Các họ về xứ này :
|
Tên họ |
Quan thầy |
Nhân danh |
Nam Lỗ |
Đức bà Rosa |
521 |
|
Duyên Tục |
Ông thánh Augustin |
186 |
|
Kinh Môn |
Ông thánh Phêrô |
135 |
|
An Lạc Làng |
Đức Bà lên 3 tuổi |
235 |
|
Lũ Đăng |
Đức Bà chuộc kẻ làm tôi |
81 |
|
Cổ Khúc |
Đức Bà bảy sự |
115 |
|
Duyên Trang |
Ông thánh Phanxicô |
120 |
|
An Lạc Trại |
Ông thánh Vincentê |
154 |
|
Cổ Cốc |
Ông thánh Tômasô |
61 |
|
Họ Phạm |
Ông thánh Giuakinh |
38 |
|
Sổ Làng |
Bổn đạo mới |
54 |
|
Thổ Khối |
Bổn đạo mới |
30 |
|
An Thái |
Bổn đạo mới |
33 |
|
Phú Điền |
Bổn đạo mới |
10 |
|
Lộ Xá |
Bổn đạo mới |
8 |
|
Hoàng Nông |
Bổn đạo mới |
8 |
|
Kim Ngọc |
Bổn đạo mới |
11 |
|
Cộng |
|
1197 |
Các ông dòng bà dòng về xứ này được 84 người.
*
* *
Năm 1929, Đức cha Trung đã nâng họ Duyên Tục lên hàng Giáo xứ, và cắt họ Duyên Trang về xứ mới này.
Năm 1930, họ giáo Y Đún được thành lập, và nhận thánh Têrêsa Hài Đồng Jêsu làm bổn mạng.
Năm 1948, Đền Đức Mẹ Fatima được xây dựng tại Khu Sốc thuộc họ Nhà xứ.
Biến cố năm 1954, một phần lớn giáo dân của xứ di cư vào miền Nam. Số giáo dân còn lại thưa thớt, lại gặp những năm tháng chiến tranh và khó khăn, một vài họ bị xóa sổ.
Sau năm 1975, một số giáo dân vì kế sinh nhai, lại tiếp tục vào các tỉnh phía Nam để sinh sống, giáo xứ lại bớt đi một số người.
Năm 1978, ngôi nhà thờ họ Kinh Môn bị tháo dỡ. Nay chỉ còn một khu đất nền nhà thờ trước đây làm vết tích. Số diện tích xung quanh nhà thờ của họ giáo này đã bị san ủi thành ruộng cấy.
III - CÁC LINH MỤC COI SÓC GIÁO XỨ
Từ ngày thành lập giáo xứ, Nam lỗ luôn được các cha trông coi phục vụ. Khi thì trực tiếp, lúc thì gián tiếp. Bao ân tình sâu nặng, bao kỷ niệm êm đềm, bao thành quả vật chất và tinh thần mà các Ngài để lại.
Hôm nay nhìn lại, từ ngày ấy,100 năm qua đã có 12 linh mục coi sóc xứ này:
1. Từ năm 1908 đến 1914: cha Phêrô Trứ, cha xứ tiên khởi.
Người xây dựng ngôi thánh đường giáo xứ.
2. Từ năm 1915 đến 1928: cha Phêrô Thiêm coi sóc.
3. Từ năm 1929 đến 1935: cha Thôma Vũ Nguyên Sùng.
4. Từ năm 1936 đến 1945: cha già Giuse Khuông coi sóc.
5. Từ 10-1945 đến 8-1954: cha Giuse Phạm Hữu Đoàn coi sóc. Sau khi cha Đoàn vào Nam, giáo xứ trống vắng. Đức cố giám mục Đaminh Đinh Đức Trụ bấy giờ là Giám quản giáo phận, gián tiếp trông coi giáo xứ, với sự cộng tác của cha già Sùng. Từ đây giáo xứ không còn Cha xứ trực tiếp trông nom.
6. Từ 11-1955 đến 10-1960: cha Vinhsơn Nguyễn Khắc Hiếu, cha xứ An Lập, phụ trách.
7. Từ 11-1960 đến 5-1973: cha Gioankim Trần Trọng Uyên từ chủng viện Mỹ Đức, phụ trách.
8. Từ 5-1973 đến 5-1978: cha Gioan B. Phạm Ngọc Châu cũng từ Mỹ Đức, phụ trách.
9. Từ 5-1978 đến 4-1996: cha chính Giuse Bùi Văn Cẩm từ Mỹ Đức, phụ trách.
10. Từ 4-1996 đến 6-2001: cha Giuse Trần Đức Hạnh chánh xứ Thuần túy, phụ trách.
11. Từ 6-2001 đến 7-2002: cha Phêrô Nguyễn Kim Toàn, chánh xứ An Lập, phụ trách.
12. Ngày 12-7-2002, cha Đaminh Nguyễn Văn Quát, cha xứ đương nhiệm đã về phục vụ giáo xứ. Chấm dứt khoảng thời gian 48 năm trống vắng không có cha xứ trực tiếp ở với giáo xứ.
Như vậy, 100 năm từ ngày lập xứ, thì một nửa thời gian không có cha xứ trực tiếp ở giáo xứ. Đó lại là một thời kỳ có nhiều khó khăn phức tạp. Nên giáo xứ chịu nhiều thiệt thòi mất mát.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, những người con của Nam Lỗ vẫn giữ được hào khí của cha ông.
Quả vậy, ngay sau khi đón nhận hạt giống Tin mừng, các bậc tiền nhân của cộng đoàn này đã làm trổ sinh hoa trái. Các cộng đoàn phát triển. Các nhà giáo, nhà nguyện, nhà thờ lần lượt mọc lên. Đời sống Đức Tin vững mạnh. Nơi đây cũng là quê hương của biết bao anh hùng tử đạo, những người đã đổ máu đào, hiến dâng mạng sống vì Đức Tin. Bẩy phần mộ của các ngài ở họ Khuốc, 13 bộ hài cốt có kèm thẻ ở họ Tăng là những bằng chứng. Riêng tại phần đất khu vực thánh đường Nam Lỗ còn có hài cốt của một số vị tử đạo có danh tánh mà hồ sơ của các Ngài hiện đang được lưu giữ tại Bộ Phong Thánh ở Rôma chờ ngày cứu xét để phong Chân Phước.
Theo tra cứu của Cha cố Sơn thì :
Trong số 1264 hồ sơ các vị Tử đạo Việt nam tại Bộ Phong Thánh Rôma sẽ được cứu xét, có 5 vị sinh quán tại giáo xứ Nam Lỗ, giáo phận Thái Bình, miền Bắc Việt Nam :
1. Ông Vincentê Quỳnh 70 tuổi, người cha có 2 con tử đạo.
(hồ sơ số 834)
2. Ông Phêrô Quân, con cả ông Quỳnh (hồ sơ số 800)
3. Ông Đaminh Đệ, con thứ. (hồ sơ số 252)
4. Thầy Đaminh Chiêu, Thầy giảng. (hồ sơ số 176)
5. Ông Phêrô Đán 50 tuổi, có gia đình (hồ sơ số 219)
Tất cả các vị đã có đầy đủ hồ sơ cần thiết, xin sốt sắng cầu cho các Ngài chóng được phong lên chân phước (Á thánh ).
(Trích thư của Cha quý hương, cố Lm. Polycarpo Trần Thái Sơn, CMC)
Đó mới chỉ là 5 vị trong số 14 Hiền phúc Tử Đạo của Nam Lỗ đã được công nhận là chết vì Đạo và đang thỉnh cầu phong Chân phước. Theo cuốn VƯỜN VẠN TUẾ THÁI BÌNH (tủ sách Họ Hoàng Bồ Ngọc xuất bản năm 2006), Nam Lỗ có các vị Tử đạo sau đây:
1 - Hiền phúc Linh Mục Vinh Sơn TRÍ, họ Nhà Xứ.
2 - Hiền phúc Thầy giảng Đaminh CHIÊU, họ Nhà Xứ
3 - Hiền phúc Vinh Sơn QUỲNH, họ Nhà Xứ,
4 - Hiền phúc Đaminh ĐỆ, họ Nhà Xứ,
5 - Hiền phúc Phêrô QUÂN, họ Nhà Xứ,
6 - Hiền phúc Phêrô ĐÁN, họ Nhà Xứ,
7 - Hiền phúc Phêrô THỊNH, họ Tăng.
8 - Hiền phúc Phêrô MÂY, họ Tăng.
9 - Hiền phúc Đaminh DI, họ Tăng.
10 - Hiền phúc Đa minh NGHIÊM, họ Tăng.
11 - Hiền phúc Đaminh HUỆ , họ Tăng.
12.- Hiền phúc Đaminh PHƯƠNG, họ Tăng.
13 - Hiền phúc Đaminh KHANG, họ Khuốc
14 - Hiền phúc Đaminh HIẾN, họ Cốc
*************
Thừa hưởng gia tài Đức tin của tiền nhân, những người con Nam Lỗ các thế hệ luôn phát huy truyền thống hào hùng của cha ông. Quả vậy, ngay sau khi đạo được bình an, với số giáo dân không nhiều, phương tiện thô sơ, mọi sự tự lực, thế mà các nhà thờ lớn nhỏ được mọc lên. Trước nhỏ rồi sau to. Trước đơn sơ rạ lá, rồi sau cột gỗ tường xây, cứ thế tiến lên.
Kể từ ngày lập xứ (1908) với số giáo dân toàn xứ có hơn một nghìn người, thế mà các nhà thờ mới trong xứ liên tiếp được xây dựng:
Năm 1911, họ nhà xứ với số giáo dân chưa được 500 người đã hoàn thành ngôi thánh đường to đẹp và vững chắc mà chúng ta đang thừa hưởng đây.
Cùng năm ấy, họ Cốc với số dân khoảng 50 người cũng đã khánh thành ngôi nhà thờ mà nay vẫn còn giữ được một phần di sản quý giá đó.
Năm 1912, họ Khuốc với khoảng 100 nhân danh cũng xây dựng ngôi nhà thờ và năm 1932 được tái thiết. Nhà thờ này đã bị hoả hoạn thiêu rụi năm 1960, duy ngọn tháp đến hôm nay vẫn còn đang vươn thẳng.
Năm 1914, họ Phạm với hơn 30 nhân danh cũng đã xây dựng ngôi thánh đường mà ngày nay vẫn còn chắc chắn.
Cùng năm đó, họ Sổ Làng với khoảng 50 nhân danh cũng xây dựng nhà thờ, và nay còn giữ lại một phần các vì kèo gỗ khi xây dựng lại ngôi thánh đường mới năm 1998.
Năm 1916, với 232 nhân danh, họ đàn anh Lác Làng xây dựng ngôi nhà thờ gỗ kiên cố chẳng thua kém gì nhà xứ, nay vẫn còn vững chắc.
Họ Kinh Môn với 135 nhân danh khi lập xứ cũng xây dựng được ngôi nhà thờ gỗ to đẹp và bị tháo dỡ năm 1978, nay ai cũng hối tiếc.
Năm 1944 họ bổn đạo mới An Thái xây dựng ngôi thánh đường khang trang, còn tới ngày nay.
Năm 1948 họ nhà xứ lập Đền Đức Mẹ tại khu Sốc.
Các họ khác cũng gắng công xây dựng nhà thờ tùy sức của mình. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh thời cuộc và thời tiết các nhà thờ này đã phải tái thiết nhiều lần, một vài nhà thờ bị xóa sổ. Đó là 3 họ Lộ Xá, Phú Điền và Kim Ngọc.
Sau biến cố năm 1954, số giáo dân còn lại quá ít ỏi, thời thế không thuận lợi, thời tiết nhiều khi khắc nghiệt, gây nhiều khó khăn cho những người con dân trong xứ.
Tuy khó khăn nhưng những người con Nam Lỗ tại quê hương vẫn giữ được truyền thống cha ông, sống đạo, bảo toàn đức tin, bảo tồn những di sản tinh thần, vật chất của tổ tiên để lại. Cho dù có một vài họ bị mất mát đất đai trong nơi thờ tự nhưng nhìn chung vẫn giữ được tương đối vẹn toàn. Được như vậy là nhờ sự hy sinh quên mình và lòng nhiệt thành của con dân trong xứ.
Một điều rất đáng tự hào là suốt 48 năm (1954 – 2002) Giáo xứ không có Cha xứ ở trực tiếp, nhưng đời sống đức tin vẫn tốt, mọi sinh hoạt vẫn diễn tiến đều đặn. Các nhà thờ vẫn được bảo dưỡng, tu sửa. Một vài nhà thờ nhỏ của các họ cũng như các công trình nhỏ khác vẫn được xây dựng. Những thành quả đó nhờ sự hỗ trợ của các đấng bậc coi sóc giáo xứ, nhưng cũng là sự hy sinh không mệt mỏi của dân xứ, nhất là trong những thời điểm khó khăn.
Nhìn lại 100 năm từ khi lập xứ thì 46 năm Nam Lỗ có Cha xứ ở trực tiếp (1908 - 1954). Tiếp đó là 48 năm nhà xứ trống vắng (1954 – 2002), và sáu năm trở lại đây, nhờ ơn Chúa lại có cha xứ.
Sáu năm qua, giáo xứ được phục sức nhanh chóng. Mọi người cố gắng, bà con đồng hương, anh em xa gần giúp đỡ nên bộ mặt giáo xứ đã có được như ngày hôm nay. Tuy vậy, kết quả vẫn còn quá khiêm tốn và công việc phải làm còn rất nhiều, từ nhà xứ đến các họ.
Hiện tại Nam Lỗ có 1377 nhân danh, 13 nóc nhà thờ, gồm họ nhà xứ, 11 họ lẻ và Đền Đức Mẹ thuộc nhà xứ. Con số thực tế của các họ như sau:
|
TT |
Tên họ |
Quan thầy |
Nhân danh |
|
1 |
Nhà xứ |
Đức Bà Rosa |
590 |
|
2 |
Lác làng |
Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ |
155 |
|
3 |
Lác trại |
Thánh Vincentê |
154 |
|
4 |
An thái |
Thánh Giuse công nhân |
165 |
|
5 |
Khuốc |
Đức Mẹ Bảy sự |
94 |
|
6 |
Sổ làng |
Thánh Gioan Baotixita |
84 |
|
7 |
Tăng |
Đức Mẹ Vô nhiễm |
36 |
|
8 |
Cốc |
Thánh Thômasô tiến sỹ |
21 |
|
9 |
Phạm |
Thánh Gioankim |
8 |
|
10 |
Ngói |
Th. Phêrô Nguyễn Bá Tuần Tử đạo |
33 |
|
11 |
Hoàng nông |
Thánh Giuse bầu cử (19-3) |
7 |
|
12 |
Y đún |
Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu |
30 |
|
|
Tổng Cộng |
|
1377 |
Giáo xứ luôn có:
- Hội Đồng Mục Vụ giáo xứ và Ban trùm các họ: đây là những người nòng cốt, hy sinh phục vụ trong các cộng đoàn. Một số phải gánh vác trách nhiệm lâu dài (vì không có người thay thế) và đã trải qua nhiều khó khăn phức tạp.
- Hội gia trưởng với trên 100 thành viên
- Hội con Đức Mẹ cũng xấp xỉ 100 thành viên.
- Huynh đoàn giáo dân Đa Minh với gần 200 đoàn viên mà tiền thân là “các ông dòng bà dòng”. Đây là nhóm người nòng cốt của việc cầu nguyện trong các cộng đoàn.
- Thêm vào đó còn có hội Tân tòng, quy tụ hơn 70 anh chị em tân tòng trong cả xứ.
- Giáo xứ vẫn duy trì được đội kèn, đội trống, tuy có nhiều khó khăn về tài chánh và nhân sự.
- Giới trẻ của giáo xứ cũng phát triển về nhiều mặt :
Việc học giáo lý vẫn duy trì thường xuyên, đều đặn. Mỗi Chúa nhật trước thánh lễ ban chiều, 7 lớp học với trên 200 học sinh trong toàn xứ. Nhiều cháu ở các họ xa phải đạp xe 7- 8 km, lại còn phải qua đò qua sông. Rất vất vả.
Học văn hóa mỗi ngày một nâng cao, số học sinh theo học cấp III ngày một tăng. Toàn giáo xứ có trên 20 em vào Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp, trong đó một số đã thành đạt và có công ăn việc làm tốt.
Phát huy truyền thống của tiền nhân trong đời sống đức tin, những người con Nam Lỗ dấn bước theo Chúa lên đường phục vụ tha nhân trong đời sống tu trì, và luôn có mặt trong các giai đoạn.
Chúng ta còn ghi lại được nhờ sử liệu, thì ngay buổi đầu Nam Lỗ đã có một Thầy giảng tử đạo: cha Vinh Sơn Trí, thầy Đaminh Chiêu.
Những thế hệ kế tiếp, rất tiếc chúng ta không có sử liệu để xác định. Nhưng gần đây Nam Lỗ đã có một số đóng góp đáng kể cho Giáo Hội :
A. Có 10 Linh mục và 1 Phó tế, đó là:
1. Cha Đaminh Bùi Duy Hưng, họ Khuốc, qua đời tại trại Thanh Hoá.
2. Cha Cố Polycarpo Maria Trần Thái Sơn ( họ Nhà xứ), dòng Đồng Công, qua đời tại hoa Kỳ ngày 20-6-2003.
3. Cha Tôma Trần Thiên Định (Lác Làng), đang phục vụ tại Hoa Kỳ.
4. Cha Giuse Nguyễn Thanh Liêm (An Thái), đang phục vụ tại Úc.
5. Cha Giuse Trần Duy Kim (Lác Làng), đang phục vụ tại Hoa Kỳ.
6. Cha Vincentê Phạm Ngọc Anh Tuấn (họ Phạm), đang phục vụ tại Giáo phận Xuân Lộc.
7. Cha Vincentê Nguyễn Xuân Tuấn, (Nhà xứ), giáo phận Phú Cường, đang du học tại Roma.
8. Cha Giuse Nguyễn Văn Nhật, (Kinh Môn), đang phục vụ tại Giáo phận Mỹ Tho.
9. Cha Vincentê Trần Thanh Thoả, (quê ngoại Nam Lỗ) đang phục vụ tại giáo phận Long Xuyên.
10. Cha Đaminh Bùi Ngọc Hải, (quê ngoại Nam Lỗ), cha xứ Võng Phan, giáo phận Thái Bình.
11. Phó tế Đaminh Vũ Công Khương (Nam Lỗ), Tu viện Lời Chúa, Phú Cường.
B. Tu sĩ :
* Có các thầy :
1. Thầy FX Đặng Văn Hậu, (sổ Làng), Dòng Đồng Công.
Qua đời năm 1974.
2. Thầy Gioan. Baotixita Bùi Quang Tâm, (Sổ Làng), đang phục vụ tại giáo phận Mỹ Tho.
3. Thầy Đaminh Trần Ngọc Nam, (Lác Làng), Dòng Bệnh Viện Thánh Gioan Thiên Chúa.
4. Thầy Đaminh Nguyễn Đức Trụ (Họ An Thái), đang tu học tại Úc trong Dòng Truyền Giáo Thánh Tâm (Missions of Sacred Heart’s Congregation).
5. Thầy Vincentê Trần Trung Bảo (Lác Làng), Dòng Ngôi Lời, Hoa Kỳ.
6. …………………………………………………………
· Và các nữ tu :
1. Dì Maria Đặng Thị Kính (Sổ Làng, em Thầy Hậu), qua đời 1953.
2. Dì Maria Trần Thị Nhường, (Sổ Làng), Dòng nữ Đaminh Thánh Tâm, qua đời năm 2005
3. Dì Têrêsa Trần Thị Tuyết Trinh, (Nhà xứ), Dòng nữ Đaminh Thánh Tâm, Hố nai
4. Dì M.Têrêsa Trần Thị Hiền, (Nhà xứ), Dòng nữ Đaminh Thánh Tâm, Hố nai.
5. Dì Têrêsa M.Trần Thị Hải, (Nhà xứ), Dòng nữ Đaminh Thánh Tâm, Hố nai.
6. Dì Cêcilia Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, (An Thái), Dòng Đức Mẹ Từ Bi, (Congregation of the Sisters of Mercy), đang phục vụ tại Africa, Phi Châu.
7. Dì Mary Vũ Thuỳ Linh, (An Thái), Dòng Trinh Vương Việt Nam tại Úc, đang phục vụ tại Sydney.
8. Dì Maria Phạm Thị Hiên, (Lác trại), MTG Tân Lập, đang phục vụ tại Thái Bình.
9. Dì Maria Đặng Thị Nụ, (Lác làng), MTG Tân Lập, đang phục vụ tại Thái Bình.
10. Dì Maria Phạm Thị Dung, (Nhà xứ), MTG Tân Lập.
11. Dì Maria Nguyễn Thị Thu Hảo, (Kinh Môn), Dòng Chúa Quan Phòng, Cần Thơ.
12. ………………………………………………
Ngoài ra còn một số ứng sinh chủng viện và đệ tử các dòng tu nam nữ gốc Nam lỗ tại quê hương cũng như hải ngoại .
Chúng ta cầu nguyện cho ơn gọi tu trì của giáo xứ ngày thêm phát triển để có thêm nhiều người con Nam Lỗ đóng góp trong cánh đồng truyền giáo của Giáo Hội.
Điều đáng quan tâm là ngày nay hoàn cảnh cuộc sống xã hội chi phối, các thế hệ trẻ của giáo xứ phải xa xứ nhiều. Những phức tạp đến với họ, và những khó khăn cho người ở nhà là không nhỏ. Đời sống đạo đức nói chung bị đe dọa, xuống cấp.
Một số nhà thờ trong giáo xứ đã cao niên, cần phải tu sửa hoặc tái thiết. Hạ tầng cơ sở cũng như trang thiết bị trong nhà thờ của các họ còn thô sơ và một số họ kể như chưa có gì. Trong khi số dân quá ít ỏi lại không có khả năng nhiều trong lãnh vực kinh tế cũng như xã hội.
Trước thực tế đó, định hướng của giáo xứ là tăng cường việc giáo dục Đức Tin cho giới trẻ qua việc học hỏi Giáo lý, tích cực tham gia các sinh hoạt tôn giáo. Đồng thời đẩy mạnh việc học văn hóa. Mặt khác, cổ vũ các việc đạo đức cho các giới. Kể cả những việc đạo đức bình dân. Đặc biệt hướng tới việc bác ái xã hội để góp phần loan báo Tin Mừng.
Công việc nhiều, ước mơ lớn. Nhưng khả năng rất giới hạn. Ước mong được lời cầu nguyện, sự chỉ bảo và giúp đỡ của các đấng bậc cũng như mọi người thân yêu để với truyền thống hào hùng của cha ông, những người con của Nam Lỗ hôm nay quyết vươn lên vượt qua trở ngại để luôn sống tốt đạo đẹp đời, góp phần xây dựng Hội thánh và Quê hương.
--------------------------------------------------------------------------
Kính thưa Quý vị,
Trên đây là mấy dòng phác thảo, mạo muội trình bày đôi nét về giáo xứ Nam Lỗ, nhân dịp BÁCH CHU NIÊN THÀNH LẬP GIÁO XỨ. Vì khả năng giới hạn, tư liệu thiếu và nói chung mọi mặt hạn chế, nên chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết. Kính xin Quý đấng bậc, quý vị cao minh, cao niên đồng hương hiểu biết nhiều về Nam lỗ, vui lòng chỉ giáo, bổ sung và góp thêm bài vở để cuốn KỶ YẾU của Giáo xứ được thêm hoàn thiện và phong phú.
Rất mong có những bài Hồi Ký về các cộng đoàn giáo họ trong toàn xứ, để các thế hệ trẻ biết thêm về các bậc tiền nhân của mình.
Bài và những góp ý xin gửi về : Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, Quý vị cần kích hoạt Javascript để xem nó.
Hoặc : LM Nguyễn Văn Quát
Nhà thờ Nam Lỗ, Hợp tiến,
Đông hưng, Thái bình, Việt nam
website: http://www.gxnamlo.org
Xin chân thành cảm ơn và xin Thiên Chúa trả công bội hâu cho lòng quảng đại và những hy sinh của qúy vị.
Nam lỗ, Xuân Mậu Tý - 2008
NHÓM BIÊN SOẠN
CÁC HIỀN PHÚC TỬ ĐẠO NAM LỖ
(Trích từ VƯỜN VẠN TUẾ THÁI BÌNH)
GIÁO XỨ NAM LỖ
Nam lỗ cũng gọi là Sổ, trước đây thuộc tổng Cao Mỗ, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình. Ngày nay Nam Lỗ thuộc xã Hợp Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Nam Lỗ được các thừa sai Đaminh từ Sa Cát đến truyền giáo vào đầu thế kỷ thứ 18, rồi trở thành một họ lẻ thuộc xứ Sa Cát, nhận Đức Mẹ Mân Côi là Quan Thầy.
Năm 1908, Đức Cha Phêrô Trung (Pierre Munagorri Y Obineta) chia xứ Sa Cát thành ba xứ, xứ Nam Lỗ được thành lập, gồm 10 họ lẻ bổn đạo gốc và 7 họ giáo tân tòng. Cha xứ đầu tiên là linh mục Phêrô Trứ, chịu chức năm 1891. khi cha Trứ đổi về Tiên Chu thì cha Phêrô Thiêm, chịu chức năm 1897, về coi sóc.
Thời kỳ bắt đạo, tín hữu Nam Lỗ vẫn trung kiên giữ đức tin. Vùng Nam Lỗ thời đó có hai nơi giam giữ các tù đạo là Thổ Khối và Trinh Nguyên, nhiều vị tử đạo bị xử tại hai nơi ấy. Nhờ gương sáng các tù đạo, người Thổ Khối đã xin tòng giáo, trở thành một họ lẻ (họ Ngói) của giáo xứ bây giờ.
Nam Lỗ cũng có nhiều tín hữu hy sinh mạng sống để minh chứng đạo Chúa, trong số đó có 14 Hiền Phúc đã được Hội Thánh công nhận là chết vì đạo Chúa, đã có hồ sơ làm án xin phong Chân Phúc. Các ngài là những ngành lá thắm tươi trong vườn vạn tuế Thái Bình.
1.- Hiền phúc Linh Mục Vinh Sơn TRÍ (505)
Xứ Nam Lỗ (Sổ ), Thái Bình.
Hiền phúc Linh Mục Vinh Sơn Trí, Dòng Đaminh, người Nam Lỗ(Sổ), tỉnh Thái Bình, 61 tuổi, con ông Cố Sen. Từ nhỏ đã vào Nhà Chúa, chịu chức Linh Mục và khấn dòng năm 1830. cha coi xứ Quần Cống, phải trốn ẩn nhiều thời gian. Sau khi thánh Án Khảm và các vị tử đạo Quần Cống bị bắt, quân lính càng ráo riết tầm nã cha. Sau cùng, ngày 1-3-1859, Cha bị bắt giải nộp cho tổng đốc Nam Định, Cha liền bị bỏ tù. Trong tù Cha viết thư cho Đức Cha thánh Vinh vui mừng tỏ ý muốn phúc tử đạo. Quan đòi Cha ra toà, bắt khoá quá, cha hết sức sốt sắng hôn tượng Thánh Giá đặt dưới đất và trang trọng giảng thuyết về đạo Chúa. Vì thế tổng đốc Hưng tức giận nói với Cha: “tao có quyền xử tử mày, không cần đợi sắc chỉ của Vua”. Những quan khác thì cần sắc chỉ ấy, nhưng Thượng Hưng Nguyễn Đình Tân vì là nhạc phụ Vua Tự Đức (ông có con gái được tuyển vào cung, phong đến bậc Châu phi), nên tự tiện lên án các vị tử đạo. Cha bị trảm quyết tại Nam Định ngày 24-3-1859.
2.- Hiền phúc Thầy giảng Đaminh CHIÊU (506)
Xứ Nam Lỗ (Sổ), Thái Bình.
Hiền phúc Thầy giảng Đaminh Chiêu, người Nam Lỗ, hơn 20 tuổi, con ông Diên hay Duyên, hiền lành đạo đức và rất nết na. Thầy giúp việc Cha Gioan Án, cho tới ngày cả hai bị bắt ở Bái Bồ Trang cùng với hai Thầy giảng khác là Lãng và Tựu, bị giải lên Hưng Yên và chịu giam cầm. Thầy mạnh mẽ xưng đạo ra trước mặt các quan. Vì thế phải lên án xử tử. Ba Thầy bị trảm quyết đầu năm 1862.
3- Hiền phúc Vinh Sơn QUỲNH (518)
xứ Nam Lỗ, Thái Bình.
Hiền phúc Vinh Sơn Quỳnh, người Nam Lỗ, gần 70 tuổi, con ông Khiết. Hiền phúc Quỳnh là cha của hiền phúc Quân và Đệ sẽ nói sau. Hiền phúc là trùm họ đạo, là nông dân, rất sốt sắng giữ đạo. Năm 1859. ông bị bắt vì là chức dịch trong họ đạo, bị giải lên Hưng Yên, bị giam tù cùng với Hiền phúc Đán (số522). Ở đấy hai năm hay hơn, ông phải chịu vô số hình khổ, nhất là vì già cả nên càng đau đớn. Nhưng ông luôn vui tươi, năng sốt săng đọc kinh Văn Côi với Hiền phúc Đán bạn tù, vững vàng xưng đức tin ra luôn luôn. Không bao giờ ông chịu khoá quá, mặc dầu bị quan quân xui giục ráo riết và lôi mạnh qua Thánh giá. Vì thế ông chịu trảm quyết ngày 31-5-1861.
4- Hiền phúc Đaminh ĐỆ (519)
Xứ Nam Lỗ, Thái Bình.
Hiền phúc Đaminh Đệ, người Nam Lỗ, Thái Bình, con của Hiền phúc Quỳnh. Ông hơn 20 tuổi, nhưng không muốn lập gia đình, để có thể cùng với các học trò Nhà Chúa học hành chữ nghĩa, cùng với họ, ông năng đi nhà thờ, ông cùng với anh là Phêrô Quân (số 520) bị bắt và bị giam ở ngục Hưng Yên.
Những người biết ông đều hết sức ca tụng ông, vì ông rất can đảm chịu đòn vọt và những khổ hình khác, do ông không chịu khoá quá. Ông chịu trảm quyết năm 1861.
5 - Hiền phúc Phêrô QUÂN (520)
Xứ Nam Lỗ, Thái Bình.
Hiền phúc Phêrô Quân, người Nam Lỗ, chừng 40 tuổi, là con của Hiền phúc Quỳnh (số 518) và là anh của Hiền phúc Đệ (số 519). Ông bị bắt cùng với em mình, nhưng khi bị giải lên phủ, vì quân lính phủ hành hạ ông quá lẽ nên ông ngất đi ở dọc đường, quan phủ bắt lính vác ông lên mà đưa qua Thánh giá, sau đó cười nhạo ông là thằng dại mà tha về. Sau ít lâu, ông phủ ấy chết, ông kế quyền thấy tên ông trong sổ, nên truyền bắt ông mà đầy lên các làng Phú La và Bông Cói, tỉnh Hưng Yên. Bấy giờ Hiền phúc đã lành mạnh, nên lại bị giục khoá quá. Ông không chịu, nên phải chịu nhiều hình khổ khác, mà vẫn luôn vững vàng. Vì thế ông phải trảm quyết ở Hưng Yên, có lẽ cùng với em Đệ của ông.
6 - Hiền phúc Phêrô ĐÁN (522)
xứ Nam Lỗ, Thái Bình.
Hiền phúc Phêrô Đán người Nam Lỗ, trên 50 tuổi, con ông Hiền, đã có vợ con. Ông bị bắt vì là một hương chức trong làng. Ông phải giải lên phủ Tiên Hưng, rồi sang Hưng Yên mà chịu giam cầm. Trong tù ông năng xưng tội với một Linh Mục cũng bị giam ở đó. Ít là hai lần ông bị đánh đòn rất dữ vì không chịu khoá quá. Và vì thế mà chịu trảm quyết ở Hưng Yên, không tìm thấy thi hài ông.
7- Hiền phúc Phêrô THỊNH (513)
Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.
Hiền phúc Phêrô Thịnh, người họ Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ, con ông Trí và là anh của Hiền phúc Phêrô Mây (số 514), hai anh em cùng bị bắt với bốn người làng vì đi đạo, bị đầy lên làng Bông và Suôi tỉnh Hưng Yên chín tháng. Hai tháng đầu, lòng các vị hơi bối rối, nhưng về sau lấy lại được sự bình an, các vị càng ngày càng tỏ ra tinh tường, lớn tiếng đọc kinh với nhau, không còn sợ sệt gì ai nữa, nhưng sẵn sàng chịu chết vì đạo. Hiền phúc Thịnh là thanh niên tốt, bị bắt cùng với cha mẹ và anh chị em, nhưng phải đi đày với em và bốn người khác như đã nói trên. Ông hoàn toàn noi gương các bạn mình, nên vui vẻ chịu chém cùng với Hiền phúc Di (số 523) ở làng Suôi, vào chính ngày bốn bạn kia chịu chém ở làng Bông.
8 - Hiền phúc Phêrô MÂY (514)
Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.
Hiền phúc Phêrô Mây, người Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ, con ông Trí và là em Hiền phúc Thịnh (số 513). Ông là thanh niên còn độc thân, làm ruộng, có những tư chất tốt. Ông bị bắt cùng với cả gia đình cũng như anh Thịnh, nhưng trốn thoát được. Sau bị bắt lại, người ta truyền ông khoá quá, ông hoàn toàn không chịu. Vì thế ông phải đeo gông rất lớn, đầy lên hàng Bông, nơi cha mẹ ông đang bị cầm giữ, vì ông nói với quan huyện là mình muốn đi theo cha mẹ. Bị giam ở đó chín tháng mà vẫn vững vàng, nên ông bị án trảm quyết vì cùng một duyên cớ như anh ông và các bạn tử đạo khác. (xem thêm số 513).
9.- Hiền phúc Đaminh DI (523)
Lũ Đăng, Xứ Nam Lỗ.
Hiền phúc Đaminh Di, người Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ. Ông rất khiêm nhu, ăn ở hiền lành, không làm hại ai, là nông dân, đã có vợ và một con gái. Ông bị bắt vì đạo với ông Thịnh (số 513), cùng với nhiều người khác sẽ nói sau. Cùng với các vị ấy, ông đã luôn hăng hái vững vàng xưng đạo ra, nên ông phải chịu nhiều hình khổ. Nhưng các ông không cùng bị hành xử với nhau. Hiền phúc Di bị trảm quyết với Hiền phúc Thịnh tại làng Suôi (xem số 513).
10.- Hiền phúc Đaminh NGHIÊM (524)
Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.
Hiền phúc Đaminh Nghiêm, người họ Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ, còn trẻ, mới 16 tuổi, con ông Uẩn. Tính cậu tốt lành, hiền hoà, còn đang đi học. Cậu cũng là bạn tử đạo với ông Thịnh nói trên, chịu nhiều khổ hình như nhau và vẫn vững bền xưng đạo. Nhưng cậu bị giết ở làng Bông (các điều khác như ở số 513).
11.- Hiền phúc Đaminh HUỆ (528)
Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.
Hiền phúc Đaminh Huệ, người Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ, con ông Thoan, là thanh niên còn độc thân. Ông là bạn tử đạo với ông Thịnh (số 513), nhưng bị trảm quyết tại làng Bông với ông Nghiêm (số 524) và ông Phương (số 529). Các điều khác nói ở (số 513).
12.- Hiền phúc Đaminh PHƯƠNG(529)
Lũ Đăng, xứ Nam Lỗ.
Hiền phúc Đaminh Phương, người Lũ Đăng, không biết tên cha mẹ và niên tuế, nhưng biết rằng ông là thanh niên làm ruộng, còn độc thân, không mắc tiếng xấu gì, ông là bạn tù đạo với ông Thịnh, nhưng lại rất dũng cảm chịu trảm quyết vì đức tin với ông Huệ tại làng Bông (các điều kiện khác như ở số 518).
13- Hiền phúc Đaminh KHANG (527)
Cổ Khúc, xứ Nam Lỗ.
Hiền phúc Đaminh Khang, người Cổ Khúc, xứ Nam Lỗ, con ông Thịnh. Cậu là học trò Nhà Chúa, vì bệnh phải về gia đình uống thuốc mà bị bắt vì đức tin tại nhà. Cha cậu là Thịnh, anh cậu là Sĩ và chính cậu bị đầy lên làng Bông Cói. Ở đây cha con cậu luôn đọc kinh cầu nguyện và đan thúng đan rá. Vợ ông Sĩ đem thúng rá ấy ra chợ bán, lấy tiền nuôi ba cha con suốt mười tháng như vậy. Các nhân chứng không nói gì hơn nữa về các hiền phúc Thịnh và Sĩ. Nhưng về hiền phúc Khang thì họ quả quyết rằng: cậu học sinh Nhà Chúa đó luôn vững vàng trong đức tin, sốt sắng khuyến khích các kitô hữu bị giam ở đấy hãy vững lòng giữ đạo cho đến chết. Mặt khác còn được biết rằng: hiền phúc Khang khi đứng trước mặt viên quan tên Riễn, nổi tiếng độc ác, nhận được tin phải chết vì đạo, hiền phúc đã rất vui mừng và sốt sắng dọn mình chịu chết. Vì không chịu khoá quá nên hiền phúc Khang phải trảm quyết năm 1862 tại Lang Lô, làng Thanh Cù.
14.- Hiền phúc Đaminh HIẾN (530)
Cổ Cốc, xứ Nam Lỗ.
Hiền phúc Đaminh Hiến, người Cổ Cốc, xứ Nam Lỗ, con ông Tri, 18 tuổi, còn độc thân, ngoan ngoãn, hiền lành. Theo lệnh viên quan tri phủ Riễn rất độc ác, tất cả giáo hữu ít ỏi ở Cổ Cốc đều bị bắt, trong đó có cậu Hiến. Các vị bị đưa đến làng Quán Dâu, sau sang làng Thanh Cầm, xứ Ngọc Đồng, Hưng Yên. Xem ra cư dân ở đây là kitô hữu kín đáo, vì họ đối xử với những kitô hữu bị giam ở đây rất nhân đạo. Mặt khác, các tín hữu bị lưu đày của làng Cổ Cốc không bị đưa ra toà nào, nhưng chỉ do lệnh vua mà phải giết nếu còn trong tù. Cậu Hiến và người cùng làng bị đem đi xử với rất nhiều người khác trong trường hợp như sau:
Thượng Hưng từ Nam Định và các viên quan khác đến nơi gọi là Rồng Chầu (Long Triều chăng?), truyền đem tất cả các kitô hữu bị giam ở các nơi lân cận đến. Các kitô hữu biết mình bị đem đi xử, nên vui mừng hát kinh cầu các thánh và đọc nhiều kinh khác mà đi, người làng lấy làm lạ lắm. Thế rồi không một án quyết, những con chiên hiền lành ấy, con số tới hơn hai trăm người, theo lệnh Thượng Hưng, bị gươm chém tất cả ở Rồng Chầu, ngày 2-6-1862.
Hiền phúc Hiến vì tỏ ra sốt sắng hơn mọi người nên giơ cổ ra trước nhất. Chứng nhân Khoan kể lại rằng: chính hiền phúc đã quỳ xuống hai ba lần để chịu chém, nhưng lý hình bảo: “thằng này gầy nhom và còn nhỏ, chạy đi, chúng tao không muốn giết mày”.. Khi đã thảm sát hết hơn hai trăm người, lính tráng đào những huyệt lớn, xô lẫn lộn thi hài các vị xuống mà chôn tập thể. Ông Khoan là chứng nhân mục kích đã nói như vậy.
PHẦN HỒI KÝ
Chiếc xe đang bon bon trên đường gần tới Nam Lỗ, thì một người trên xe hỏi tôi :
Ông cố Cha Thỏa ở Võng Phan, Hưng Yên. Võng Phan - Nam Lỗ đường xá xa xôi như vậy, sao Ông cố lại quen được Bà cố mà cưới nhau, chắc mối tình phải lâm ly lắm nhỉ ?
Tôi trả lời: Hồi đó tôi làm mai cho Ông cố tôi đó. Cả xe cười rộ lên. Một người hỏi :
Hồi đó Cha ở nơi mô mà làm mai rứa?
Cả xe lại được dịp cười thoải mái. Trên xe hôm đó có một số Việt Kiều Úc, cha Liêm, bà cố Vượng và tôi về thăm quê ngoại lần thứ hai vào đầu tháng 12 năm 2000. Từ đó hình ảnh quê ngoại đã khơi dậy trong trí tôi biết bao kỷ niệm ấu thơ. Hồi còn bé tôi đã được theo Ba Má về thăm quê ngoại mấy lần. Vì còn nhỏ nên tôi thấy quê ngọai bao la, làng mạc nằm trên cánh đồng lúa, bên cạnh là con đê lớn song song với con sông rộng và sâu. Tôi nhớ nhà ông Kiểm Lâm là em ruột Bà ngoại, ở sát bên cạnh bờ sông và con đê. Nhà ông có một vườn cây, tôi rất thích thú được trèo lên cây để hái ổi hái táo. Rồi từ đó đi vào làng phải xuống một con dốc. Bờ tre quanh làng xen lẫn hàng hoa giấy và hoa Tầm xuân nở rộ quanh năm đỏ rực. Con đường làng quanh co qua nhiều cái ao rộng, trồng hoa sen hoa súng.
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.
Đi sâu vào giữa làng, một ngôi Nhà thờ nguy nga, ngọn tháp cao vút, khu nhà xứ rất rộng. Bà ngoại tôi là bà Nguyễn Thị Sinh, ông ngoại đã chết lâu rồi, sau khi sanh được hai người con là Bác Tuệ ở Tuộc, và bà Nguyễn Thị Tòng là bà cố tôi. Hai con đi ở riêng nên bà ngoại về ở với ông cậu út là ông Kiểm Xuyên. Nhà ông Cậu cạnh nhà xứ và nhà thờ, trước cửa có trồng nhiều cây dâu tằm. Tôi thường leo lên cây dâu để hái quả và đẽo sâu dâu về nướng ăn .
Ôi quê ngoại sao đẹp và vĩ đại thế. Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày. Quê hương là con đò nhỏ, Mẹ về nón lá nghiêng che. Quê hương nếu ai không hiểu sẽ không lớn nổi thành người.
Ngoài mấy lần theo cha mẹ về thăm quê ngoại , sau tôi còn được diễm phúc về sống hai năm trên mảnh đất quê ngoại. Cha già Vinh Sơn Nguyễn Hữu Thụy là em ruột bà nội tôi, Ngài về hưu ở họ An Lạc (Lác Làng) thuộc xứ Nam Lỗ năm 1949 – 1950, Ngài bắt tôi theo Ngài và nói:
Tao muốn gây dựng cho mày để sau này trở thành giống má. Tôi chẳng hiểu “giống má” là gì.
Chỉ nhớ nhà và đòi về. Thỉnh thoảng Ngài lại cho tôi sang bên ngoại để chơi khuây khỏa. Rồi hôm ngoại qua đời, tôi được đại diện thay mặt Ba Má theo tiễn đưa ngoại đến nơi an nghỉ.
Lúc bấy giờ thời thế chia làm hai vùng, Tự do và làng Tề. Ba má tôi ở vùng Tề nên không thể về dự lễ an táng được.
Tôi được nghe người ta kể lại: Cha già Thụy là em ruột của bà nội tôi. Hồi Ngài đang coi xứ Tuộc, Ngài đã mai mối để Ba Má tôi cưới nhau. Trong gia đình bên nội, có nhiều anh em, nhưng ngài thương Ba tôi nhất. Mỗi khi về thăm quê, Ngài thường ở nhà Ba Má tôi. Có lẽ vì thế mà Ngài đã lưu tâm gây dựng cho tôi trở thành “giống má”.
Kính thưa Cha già kính yêu,
Con đang viết những giòng chữ này, con xin chắp tay lạy Cha ba lậy một qùy để tạ lỗi, vì hồi đó còn thơ dại, con chẳng hiểu biết gì. Sau lớn lên con mới biết Cha già thương con lắm.
Con nhớ một hôm con nằng nặc đòi về, vì nhớ nhà, con cứ khóc và vùng vằn. Đường xá xa xôi cách trở, làm sao mà đưa con về được. Cha già khuyên bảo con, con không chịu nghe cha già không dám đánh con, vì ngài thương đứa cháu nhỏ phải xa cha mẹ. Ngài quay mặt đi và cho Thày Thông con Ngài đánh con ba roi. Thế là con giận cha già mãi . . . . . .
Tháng 7 năm 1950 ban đêm con ngủ ở ngoài hè với mấy đứa trẻ, người ta đánh thức con dậy và nói: “dậy đi, dậy đi mau lên, để đưa cha già xuống nhà ngang dưới”. Con chẳng biết gì tưởng người ta dắt cha già xuống nhà dưới, sau đó con mới biết cha già vừa mới qua đời. Thế mà con chẳng có một giọt nước mắt để khóc thương cha già. Ngày hôm sau Thày Thông may cho con một bộ quần áo vải sô và một cái khăn tang. Thày dặn con: “Ngày mai khi đưa đám tang cha già, phải mặc quần áo sô và đội khăn tang đi trước Quan Tài, thay mặt cho Ba Má và họ hàng”. Không ai đến dự đám tang được, đường xá xa xôi cách trở vì hai vùng Tề và Tự do khác nhau, không đi lại được.
Cha già ơi; thật là vinh hạnh cho con được đại diện cho cả dòng họ để đưa tiễn cha già. Nhưng lại thật tệ bạc vì con chẳng biết gì. Con đã không nghe lời Thày Thông, và con đã bỏ trốn không mặc áo sô, để tang vì sợ mắc cở với chúng bạn.
Sau mấy ngày an táng cha già xong Thày Thông mới tính tội con. Thày chỉ cho con thấy những lỗi lầm và sự tệ bạc. Thày đánh con 5 roi, rồi cho bà cụ Luận đưa con về quê để báo tin cha già đã qua đời. Dù phải đòn đau nhưng sắp được về quê con thấy sung sướng và quên hết đau.
Về tới quê Võng Phan, mấy ngày sau thì trong xứ làm lễ phát tang cha già tại sân nhà thờ thật long trọng. Cụ Trần Bát Đẩu thay họ hàng đọc bài điếu văn khóc cha già:
Than rằng : Thấy hình Tử đạo treo ra
Nhìn xem sự tích xót xa lòng vàng .
Ngán thay sinh tử đôi đàng
Ái ân cắt rẽ can tràng làm hai .
Kính nhớ cha già bản quán
Thánh hiệu Vinh thiêng
Vốn xưa tính nết khoan hoà
Kiệm cần bác ái thật là khôn ngoan.
Nhà thờ nhà xứ lo toan.
Tài cao khéo vá vận hàn nổi danh.
Trải bao nhiêu xứ chung quanh
Thuộc trong ba tỉnh rành rành đến nay.
Ý trên mầu nhiệm ai hay?
Tám mươi lăm tuổi vừa đầy can chi.
Cha già sao đã vội đi
Để cho đâu đấy sầu bi rầu rầu.
Mộ phần AN LẠC đới sầu
VÕNG PHAN cây cỏ trăm chiều ủ ê.
Họ hàng thương cảm tiếng ve
Cháu con cảm động canh kê ngập ngừng.
Cây muốn lặn, gió chẳng đừng,
Hiếu chung hai chữ nửa chừng đắng cay.
Cha ơi có thấu chăng hay?
Muốn đem hiếu nghĩa mà xây bên mồ
Chẳng may đang lúc nhậm mù
VÕNG PHAN NAM LỖ đường cù xa xôi.
Cha về chầu Chúa Ba Ngôi,
Để cho quê quán ngậm ngùi nhớ thương.
Cầu xin Rất Thánh Nữ Vương
Rước Cha về nước Thiên Đàng Amen.
Thời thế biến đổi, tháng Tư năm 1954 mọi người kéo nhau vào miền Nam, tưởng chẳng bao giờ được về thăm quê ngoại và viếng mộ cha già nữa.
Tháng năm 1975 đất nước giải phóng hai miền Nam Bắc sum họp một nhà, thế là lại có dịp về quê ngoại và thăm mộ cha già. Từ năm 1995 đến nay tôi đã trở về thăm quê hương 5 lần và ba lần về quê ngoại, và viếng mộ cha già, và đã sửa lại mộ phần Cha già.
Cây có cội, nước có nguồn, con người có tổ có tông Quê ngoại dù không phải nơi chôn rau cắt rốn, nhưng có phần mộ Tổ Tiên của Ngoại, hơn nữa lại có Mộ phần của Cha già bên Nội, nên đời con cháu làm sao có thể quên được. “Quê Hương nếu ai không hiểu, sẽ không lớn nổi thành người “.
Tháng 3 - 2008
LM Vinh Sơn Trần Thanh Thoả
Vi cảm nghĩ lần đầu tiên về thăm quê ngoại GIÁO XỨ NAM LỖ
Quê nội tôi là giáo xứ Võng Phan: ba tôi vẫn nói VÕNG PHAN NAM LỖ ĐƯỜNG CÙ XA XÔI..
Ra đi từ khi tôi lên 5 tuổi, tôi đã về quê nội hai lần, nhưng lần đầu tiên được về thăm quê ngoại và cũng là quê hương của chồng tôi.
Ngồi trên ôtô từ xa xa nhìn vào đã thấy tháp chuông cao vút của những nhà thờ giáo họ thuộc giáo xứ Nam Lỗ.
Cha xứ Đa Minh Nguyễn Văn Quát đã ra đón chúng tôi từ ngã ba Đình Thượng, có Cha Anh và anh em chúng tôi.
Về tới nhà thờ Lác Làng một hồi chuông vang lên, tôi đã thấy từ các ngõ đường dẫn đến nhà thờ các cụ già, người lớn, em bé mấy phút sau đã chật ních phòng khách giáo họ. Tôi cảm động vô cùng về lòng hiếu khách của cha xứ và giáo dân.
Chúng tôi được cha xứ dẫn về thăm giáo họ An Thái, nơi có các phần mộ tổ nội gia đình chồng nằm an nghỉ bên cạnh giáo đường.
Nhìn ngôi thánh đường giáo họ An Thái, tôi nhớ lại hồi mới về làm dâu bà Nội chồng kể cho nghe về những ngày xây dựng ngôi thánh đường năm 1945 là năm đói. Các cụ đang xây thì có những người thợ đến xin làm không công, họ chỉ cần được ăn no. Ở nhà có một cót thóc lớn ngày nào cũng xúc thóc xay gạo cho thợ ăn mà sao cót thóc vẫn cứ đầy. Rồi con sông trước mặt tiền nhà thờ, tự nhiên nổi lên một cồn cát, thợ và giáo dân cứ ra xúc cát về xây. Khi hoàn thành xong ngôi thánh đường thì cồn cát cũng biến mất.
Trải qua 60 năm nhà thờ vẫn hiên ngang sừng sững với thời gian vẫn đẹp về lối kiến trúc cổ kính.
Về đến giáo họ Lác làng, Cha xứ dẫn chúng tôi viếng mộ Cha già Thụy là ông Cậu nội của chúng tôi, đã an nghỉ bên cạnh đầu nhà thờ, tôi đã rơi lệ khi bao năm qua mà giáo dân ở đây vẫn có lòng kính mến cha già, người đã có những năm tháng quản nhiệm giáo họ Lác làng và gắn bó quãng đời về hưu ở đây. Tôi không nhớ được hình dáng của cha già cố. Nhưng ba tôi vẫn kể khi còn nhỏ anh em chúng tôi hay chơi chốn tìm, tôi là người hay chạy vào ẩn nấp trong áo chùng thâm của cha già (vì cha già hay về nhà ba mẹ của tôi chơi hoặc dưỡng bệnh.)
Giáo họ Lác Làng cũng là nơi có phần mộ cố ngoại của ông xã tôi nằm an nghỉ bên cạnh giáo đường. Vì các ngài là những vị ân nhân của giáo họ.
Chúng tôi về là vào dịp lễ mừng bổn mạng của giáo họ Lác làng (Lễ Đức mẹ Dâng Mình) Chúng tối được tham dự Thánh lễ trọng thể, có kèn tây và trống.
Vì thời gian eo hẹp, chúng tôi lại được Cha xứ đưa về giáo xứ Nam Lỗ nơi quê ngoại của chúng tôi, bao la cánh đồng lúa và những vườn chè, nơi mà mẹ tôi đã sinh ra và lớn lên từ giáo xứ này, nơi mà mẹ tôi đã được dạy dỗ và học bao điều ở đó, hiền hòa, chân thật và nhẫn nại để mẹ về làm dâu giáo xứ Võng Phan và đã dạy dỗ anh chị em chúng tôi nên người.
Từ biệt giáo xứ Nam Lỗ, giáo họ An Thái, giáo họ Lác Làng, chúng tôi cứ luyến tiếc ngẩn ngơ và mong sẽ có ngày về quê hương để thăm lại.
Xin cảm ơn tiền nhân những người đã hy sinh và dùng cuộc đời mình như những viên gạch để xây nên một giáo xứ Nam lỗ.
Cuối cùng để tất cả chúng ta những người hậu duệ còn ở nơi quê nhà hay làm ăn phương xa luôn luôn nhớ đến và tự hào về mảnh đất thân thương này./.
Kỷ niệm ngày về quê hương
20/11/2004
THANH NGUYÊN
Saigon, thang 4 nam 2008
| < Lùi |
|---|
- Ý nghĩa Lịch sử Nhà Thờ Nam Lỗ 1911-2011 (14/05/2011_ 15:24)
- Nam Lỗ 2010 - Báo cáo sơ lược - Hướng tới BCN 2011 [Video] (05/01/2011_ 21:17)
- (video) Bách Chu niên NamLỗ bộ 02 DVDs -TTNL (10/03/2010_ 01:27)
- [videoHD] Bách Chu niên Thành Lập Nam Lỗ - Quê hương [DVD01-DVD06] Tổng hợp (09/06/2009_ 00:00)
- Giáo dân Gx Nam Lỗ tại kênh B (03/03/2009_ 00:00)
- Nam Lỗ xưa và nay. (20/08/2008_ 17:11)
- Tiểu sử sơ lược Nam Lỗ (12/08/2008_ 17:00)



KỷYếu




Lời bình
Ta On Chua.