GIÁO HỌ LÁC TRẠI
GIÁO XỨ NAM LỖ
Qua bến đò Ngói, đi vào Lác Làng, ngay trên triền sông Tiên Hưng, bên tay mặt, chúng ta nhận ra một ngôi nhà thờ nho nhỏ, đẹp đẽ rêu phong, nằm giữa những rặng cây cổ thụ um tùm. Đó là Đền thánh Vincentê Lác Trại. Nơi mà biết bao nhiêu người đã lui tới khấn cầu và cũng đã nhận lãnh bao ơn lành lớn nhỏ.
GIÁO XỨ NAM LỖ
Qua bến đò Ngói, đi vào Lác Làng, ngay trên triền sông Tiên Hưng, bên tay mặt, chúng ta nhận ra một ngôi nhà thờ nho nhỏ, đẹp đẽ rêu phong, nằm giữa những rặng cây cổ thụ um tùm. Đó là Đền thánh Vincentê Lác Trại. Nơi mà biết bao nhiêu người đã lui tới khấn cầu và cũng đã nhận lãnh bao ơn lành lớn nhỏ.
Họ giáo Lác Trại, trước đây thuộc tổng An Lạc , huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình. Nay thuộc địa bàn thôn Đầm, xã Mê Linh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Cách Nhà thờ Nam Lỗ chừng 3 km về hướng Đông và cách Nhà thờ Lác Làng 1 km về hướng Nam.
Hạt giống Đức Tin.
Không có tư liệu nào ghi chép về những ngày đầu của công cuộc truyền giáo ở nơi đây. Chỉ biết rằng Sử ký Địa phận Trung năm 1916 ghi lại : năm 1908 khi thành lập giáo xứ Nam Lỗ thì họ giáo Lác Trại với tên gọi An Lạc Trại đã là một họ Bổn đạo gốc, nhận thánh Vincentê làm quan thầy. Và năm 1916 đã có 154 nhân danh.
Ngôi thánh đường họ giáo.

Chắc chắn rằng từ ngày khai sinh giáo họ, cũng như các xứ họ khác, Lác trại đã phải nhiều lần làm nhà thờ. Từ nhà tranh vách đất đơn sơ tạm bợ đến vững chắc kiên cố. Bao nhiêu lần xây dựng nhà thờ đến nay không có ai biết rõ. Chỉ vài lần gần đây thì các cụ con lưu truyền lại.
Năm 1922, nhà thờ mới tạm dựng ở cánh đồng Bông (Đồng Cửa, thôn Tiền, xã Mê Linh ngày nay) với 4 gian nhà lợp rạ do 5 gia đình các cụ trùm Bồi, cụ trùm Tín, cụ trùm Bổng, cụ trùm Kha, cụ trùm Huynh đứng lên làm ngôi nhà thờ đó.
Năm 1924 các cụ lại có kế hoạch chuyển đổi ngôi nhà thờ về đất Trại. Nền nhà thờ cũ nằm trên khu vực gọi là Gồ Rơm, và nay đã san phẳng thành ruộng trồng cấy.
Khi xây dựng nhà thờ ở đất trại, gia đình cụ Hậu Tín đã mua 5 sào đất (360 m2/ sào) dâng cúng để xây dựng lên ngôi thánh đường mới. Cũng trong thời gian này ông trùm Sang dâng cúng cho nhà thờ 2 sào đất mà chỗ đất đó bây giờ là nghĩa địa.
Ngôi thánh đường được khởi công năm 1925 và hoàn thành năm 1926.
Trong khi xây dựng nhà thờ họ giáo Lác Trại, thì bà Ký Thưởng ở họ giáo Đông Khê, thuộc giáo xứ Cao Mộc, là người thuyền chài, đánh cá ở ven sông, tối sớm bà cùng cộng đoàn đến nhà thờ cầu nguyện. Bà đã chắt chiu và cúng vào nhà thờ một pho tượng Thánh Vincentê quan thầy.
Bên cạnh đó cũng không quên được các cụ “hậu” như: cụ Hậu An, cụ Hậu Quý, cụ hậu Độ, cụ Hậu Thuyên…, các cụ đã có tinh thần trách nhiệm cao trong việc đóng góp tiền của, vận động bà con giáo dân tích cực tham gia góp công sức của mình vào trong việc xây dựng ngôi nhà thờ. Thời gian này, cụ Hậu Quý đã cố gắng dành dụm những đồng tiền của mình để mua sắm cho họ giáo một quả chuông nam. Khi ngôi nhà thờ được hoàn tất, đã có tượng Thánh Quan Thầy và chuông. Đó là một di sản rất quý từ tấm lòng, từ những hy sinh, mồ hôi nước mắt mà các cụ đã để lại cho các thế hệ cháu con. Thời kỳ này cụ Bớp làm trùm họ và cha thánh Thiêm đang coi sóc giáo xứ.
Năm 1929, cụ Đĩnh và cụ Quy làm trùm họ. Đời sống đạo của họ giáo lúc này có chiều hướng phát triển. Nhà thờ chưa có hiên nên cha xứ cùng giáo dân làm thêm hai bên hiên nhà thờ.
Từ năm 1933, sau cụ trùm Quy, đến các cụ trùm Nhàn, trùm Đức, trùm Trúc, trùm Nhung kế tiếp nhau phục vụ họ giáo.
Năm 1950 cụ trùm Nhung làm trùm họ, thời gian này bom đạn Pháp cắt đi mất phần trên mặt tiền nhà thờ, tinh thần giáo dân hoang mang. Mặt khác đã một thời gian dài trôi qua, nhà thờ có phần nào xuống cấp, lúc đó kinh tế của các gia đình rất khó khăn, nhưng cụ trùm Nhung cùng với bà con trong họ đã hết sức cố gắng cộng tác với cha Đoàn đảo lại được hai mái ngói, nhưng cuối nhà thờ vẫn chưa làm lại được.Biến cố 1954, kẻ Nam người Bắc, trong họ chỉ còn lại mấy gia đình với chừng 30 nhân danh. Thời điểm này xã hội có sự xáo trộn, khó khăn. Tuy chỉ còn ít người ở lại, nhưng với sự coi sóc của các đấng các bậc, và trực tiếp là cha già Hiếu, giáo dân trong họ vẫn gìn giữ và củng cố đời sống đức Tin cũng như cơ sở vật chất, nên đất đai, vườn ruộng không bị mất.
Năm 1960 cụ trùm Vượng làm trùm họ. Cụ trùm cùng với bà con giáo dân đoàn kết cùng nhau đứng lên để gìn giữ, củng cố niềm tin, cố gắng để bảo vệ ngôi thánh đường. Lúc này cha già Uyên coi sóc giáo xứ.
Năm 1974 cụ trùm Vượng nghỉ, ông trùm Hiến lên làm trùm họ. Thời điểm này do cha Gioan B. Phạm Ngọc Châu phụ trách. Vì chiến tranh tàn phá nên ngôi nhà thờ bị xuống cấp nghiêm trọng. Hai ông trùm cùng với bà con trong giáo họ đã đứng lên tu sửa lại được phần cuối của nhà thờ.
Năm 1977, ông trùm Công làm trùm họ. Thời gian này do cha Giuse Bùi Văn Cẩm phụ trách giáo xư. Giáo họ đã mua được 4 vạn gạch và làm sân thượng trước cuối nhà thờ.
Năm 1980, ông Sáng làm trùm họ. Năm 1984 ông Tiến làm trùm họ. Trong những thời gian này, rất khó khăn về mặt xã hội, nên giáo họ cứ âm thầm sống đức tin của mình. Lúc này cha chính Cẩm phụ trách giáo xứ.
Năm 1987, ông trùm Quyệt làm trùm họ, thời gian này ông cùng giáo họ đã mua được một số gỗ lim (hoành rui) của nhà thờ Kinh Môn. Số gỗ này thay sửa khi đảo mái ngói nhà thờ năm 1989.
Năm 1989, ông trùm Xuân làm trùm họ, đã sửa sang đảo lại hai bên mái ngói nhà thờ. Năm 1991 ông Xuân vắng nhà, ông Minh lên thay làm trùm họ và xây tường bao quanh nhà thờ. Được một năm thì ông Minh nghỉ và ông Điều lên làm trùm, ông Ninh làm trùm phó. Thời gian này họ giáo chuyển dời và xây ngôi mộ của cụ Hậu Tín.
Năm 1993 ông Ninh làm trùm, ông Khải làm trùm phó. Thời điểm này vẫn cha chính Giuse Bùi Văn Cẩm phụ trách giáo xứ. Được sự quan tâm của Cha Chính, hai ông trùm cùng với cộng đoàn giáo họ đã xây dựng được ngôi nhà phòng 3 gian mái ngói. Năm 1996, cha Giuse M. Trần Đức Hạnh về phụ trách giáo xứ, khoá bầu ban trùm mới, hai ông lại tiếp tục làm trùm. Thời gian này họ giáo đốt được 5 vạn gạch và xây đường kiệu chung quanh nhà thờ. Được ơn Chúa thương, cha xứ quan tâm, giáo họ thường xuyên có Thánh Lễ. Số nhân danh trong giáo họ mỗi ngày một đông, lúc này lên tới trên 30 gia đình với gần 150 nhân danh.
Theo thời gian, nhà thờ xuống cấp, các đầu cột bị giãn nứt. Cha xứ động viên bà con trong giáo họ cố gắng góp công sức để xây dựng lại ngôi nhà thờ. Thời gian này giáo họ đổi quả chuông nam nặng 50 kg lấy quả chuông Tây nặng 150 kg và tiếp tục đốt thêm được 10 vạn gạch và mua 35 tấn vôi.
Năm 2001, họ giáo đang trong khí thế chuẩn bị để xây dựng nhà thờ thì Cha Giuse lại thuyên chuyển lên Cao Bằng. Đức Cha giáo phận bổ nhiệm cha Phêrô Nguyễn Kiêm Toàn phụ trách giáo xứ. Nhìn nhà thờ xuống cấp trầm trọng, cha cũng động viên giáo họ cố gắng để kiến thiết lại ngôi nhà thờ mới, nhưng vì giáo họ quá khó khăn về vật chất nên vẫn chưa kiến thiết được.
Năm 2002 cha Đaminh Nguyễn Văn Quát cũng là cha xứ đương nhiệm về giáo xứ, thời gian này ông Ninh, ông Khải vẫn tiếp tục làm trùm họ. Năm 2007, trong họ dành dụm mua sắm được 20 bộ ghế trong nhà thờ.
Cùng với lòng thao thức của họ giáo, những người con của họ giáo đang ở những nơi xa xôi cũng tích cực giúp đỡ. Điển hình như: ông bà Phả ở Hố Nai đã giúp cho họ giáo một Mặt Nhật, một cỗ kiệu và một số tiền để chuẩn bị cho việc xây dựng ngôi thánh đường mới. Bên cạnh đó các ông bà như: ông bà trùm Loan, ông Măng, ông Või, ông Hương, bà Trượng, bà Huyền, các ông bà đã có tinh thần rất cao giúp đỡ họ giáo kể cả tinh thần lẫn vật chất để chuẩn bị cho việc xây dựng nhà thờ mới. Số tiền của các vị giúp đỡ đã mua sắm một số vật liệu và một số đang góp gửi ở ngân hàng để chuẩn bị ngày khởi công. Đến nay họ giáo tuy chưa xây dựng lại được ngôi nhà thờ mới nhưng dù sao những đóng góp xây dựng của tất cả mọi người từ xưa tới nay đã tạo một nền tảng vững chắc cho họ giáo. Xin Chúa trả công bội hậu cho tất cả các vị trong những đóng góp để xây dựng lên ngôi thánh đường cũ cũng như ngôi thánh đường mới trong tương lai.
Thấm thoát thời gian trôi đi đến nay đã 82 năm, ngôi thánh đường họ giáo chúng con đã trở thành nơi tối sớm mọi người tập trung đến cầu nguyện. Chúng con không thể nào quên được công ơn các vị hậu, các bậc tiền nhân đã có công xây dựng lên. Cũng như các vị trùm qua các thời kỳ đã có công gìn giữ, tu sửa để giúp giáo họ duy trì và phát triển.
Trải qua những chặng đường lịch sử, cùng với thời gian dài chịu đựng nắng mưa, bão tố khắc nghiệt, hiện nay ngôi thánh đường hầu như xuống cấp trầm trọng. Mặt khác , ngôi thánh đường cũng trở nên chật chội, nhỏ bé mỗi khi cử hành thánh lễ ngày Chúa Nhật và lễ trọng. Xin Thiên Chúa mở tay nâng đỡ, xin Thánh Quan Thầy phù trợ, xin tất cả quý vị ân nhân xa gần, hải ngoại cũng như hai miền Nam Bắc, nhất là con cháu của các vị hậu mở lòng giúp đỡ giáo họ về tinh thần cũng như vật chất để giáo họ có thể xây dựng lại ngôi thánh đường mới.Nguyện xin Chúa trả công bội hậu cho tất cả mọi người đã, đang và sẽ giúp đỡ họ giáo trong quá trình xây dựng và phát triển. Và xin mọi người thêm lời cầu nguyện cho họ giáo.
Hiện tại họ Lác Trại có 37 gia đình và154 nhân danh, trên tổng số 198 gia đình và 695 khẩu dân của thôn Đầm. Họ giáo cũng có các đoàn hội : Dòng Ba, Gia trưởng, Con Đức Mẹ… và có một Nữ tu, đó là Dì Maria Phạm Thị Hiên, Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập, đang phục vụ tại giáo phận Thái Bình.
Hy vọng với tình thương, lòng quảng đại và lời cầu nguyện của quý đấng bậc, quý ân nhân, quý vị đồng hương, cộng đoàn Lác Trại sẽ có một tương lai tươi sáng.
Tháng 5 năm 2008.
Vinh sơn Phạm Ngọc Ninh
Vinh sơn Phạm Ngọc Ninh
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|
Những tin mới hơn:
- Thánh lễ Quan Thầy họ Giáo Sổ Làng (02/07/2010_ 00:10)
- Thánh Lễ quan thầy Thánh Giuse Công Nhân (06/05/2010_ 01:54)
Những tin cũ hơn:
- Những câu chuyện có thật tại họ Giáo Hoàng Nông. (07/12/2008_ 03:40)
- Họ Giáo Phạm mừng kính Thánh Quan thầy 2007 (02/10/2007_ 07:00)
- Họ Giáo Cốc kính Thánh quan thầy. (14/09/2007_ 07:00)






{














